Top 3 Địa chỉ in thiệp cưới đẹp và chất lượng tại Bạc Liêu
Top 3 Địa chỉ in thiệp cưới đẹp và chất lượng tại Bạc Liêu
May 28, 2020
Top 5 Địa chỉ nhận làm tráp cưới đẹp nhất Tp. Vinh, Nghệ An
Top 5 Địa chỉ nhận làm tráp cưới đẹp nhất Tp. Vinh, Nghệ An
May 28, 2020

Top 4 Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Lòng yêu nước” của I-li-a Ê-ren-bua hay nhất

Top 4 Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Lòng yêu nước” của I-li-a Ê-ren-bua hay nhất 2

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Lòng yêu nước” số 2

Bài Lòng yêu nước trích từ bài báo Thử lửa của I. Ê-ren-bua, về phương diện tinh thần giống như một thứ Hịch tướng sĩ của nước Nga trong những năm bốn mươi của thế kỉ XX. Vừa có ý nghĩa khai tâm, đánh thức những gì đẹp đẽ nhất của lòng người vốn hình như vẫn còn niêm phong, tiém ẩn, nó vừa tập hợp sức mạnh vô song của nhân dân nước Nga, Liên bang Xô viết đối mặt với thử thách nặng nề của cuộc chiến tranh chống phát xít Đức xâm lược (1941 – 1945).

 

So với bài hịch của Trần Quốc Tuấn, nó không hướng tới một đối tượng hữu hạn (tướng sĩ) mà phát động toàn dân, cũng không xuất phát từ những tín điều đạo lí đã trở nên chuẩn mực một thời mà từ những rung cảm nhân văn bình dị nhất. Tính dân chủ, tính toàn dân hiện lên rất rõ ràng trong bài tuỳ bút chính luận nổi tiếng một thời.

 

Về bố cục bài văn, có thể có những cách hiểu không giống nhau. Thông thường, người ta cho rằng bài văn có hai đoạn : đoạn một : lòng yêu nươc bát nguồn từ những gì thân thuộc nhất, đoạn hai : lòng yêu nước được thế hiện và thử thách trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Còn một cách khác : lấy sự kiện chiến tranh làm mốc dẫn đến lòng yêu nước của con người có hai cấp độ khác nhau. Bài viết này theo phương án thứ hai.

 

1. Lòng yêu nước ban đầu của con người như một con suối nhỏ, chưa hề sâu rộng, mênh mông. Nó gắn với môi trường sống, với thiên nhiên như “Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời” (ý thơ Tổ Hữu). Đó là những phản xạ tự nhiên mà con người thường có. Một cái cây trước nhà, một cái phố đổ ra bờ sông, vị thơm chua mát của trái lê mùa thu, đó là “những vật tầm thường nhất”. Trong câu văn kể việc đã hình thành một nhạc điệu xao xuyến, bâng khuâng của tình yêu xứ sớ. Tuy còn một cái gì mơ hồ, chưa định hình rõ nét, nhưng nó đã là lòng yêu nước sơ khai, là điểm ban đầu.

 

2. Sự đột biến của cảm nhận về tình yêu ấy ở con người chỉ xảy ra trước những biến cố, nhất là những nguy cơ, những thử thách mất còn. Người con trai trong ca dao thời trước chỉ day dứt khi phải xa quê : “Anh đi anh nhớ quê nhà…”. Còn ở đây, vấn đề nghiêm trọng hơn : cuộc chiến đấu nổ ra, vận mệnh của nước Nga treo trên đầu sợi tóc. Chính trong bối cảnh khắc nghiệt ấy mà người Nga đã nhìn quê hương với con mắt khác. Một câu văn tưởng như chỉ là một chuyển ý thông thường, nhưng thực chất, nó đã là một sự phân cấp : “chiến tranh khiến cho mỗi công dân Xô viết nhận ra vẻ thanh tú của chốn quê hương”. “Chiến tranh”, đó là một cái mốc, những con người sống trên lãnh thổ nước Nga đã trở nên là những “công dân Xô viết”, nghĩa là mang một trọng trách thiêng liêng.

 

Phải đặt câu văn vào bối cảnh lịch sử cụ thể của nước Nga lúc này là sau một năm phát xít Đức tấn công, quân đội Nga phải thực hiện cuộc lui binh chiến thuật, rời bỏ phía tây, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài mới thấy hết những hàm ý sâu xa của nó. Một trong hai khả nâng : “nước Nga sẽ không còn” xuất hiện. Trong tình hình ấy, tình cảm hồn nhiên với quê hương dược nhanh chóng thay thế bằng những trằn trọc, trầm tư. Cái đang có có thể sẽ thành không, những cảnh vật nên thơ ban đầu lúc này mới trở nên có hồn. Cái đẹp tự nhiên mới bừng sáng lên trong khoảnh khắc. Và cái binh thường đã trở nên khác thường trong những rung động thiết tha. Tất cả đã trở thành máu thịt của con người : cái cây trước nhà sẽ không còn, cái phố nhỏ sẽ tan hoang, vị thơm của trái lê hay mùi cỏ thảo nguyên sẽ sặc sụa mùi chiến tranh bom đạn của quân thù. Chính là trong bối cảnh ấy, người ta mới hiểu thấu đến nao lòng “vẻ thanh tú của chốn quê hương”.

 

Quê hương của nước Nga, hay rộng hơn cả Liên bang Xô viết, mỗi nơi một vẻ nhưng nơi nào cũng yên ả, thanh bình. Đó là xứ sở của thơ và nhạc. Còn gì thơ mộng bằng những đêm tháng sáu sáng hồng của vùng cực Bắc, hoặc cảm giác về thời gian ngừng trôi giữa trưa hè vàng óng của U-crai-na. Muốn kiếm tìm chất hội hoạ điển hình phải đến Gru-di-a cùng với những niềm vui bất chợt khi thì rời những tảng đá sáng rực, lúc thì dòng suối óng ánh bạc đột ngột hiện ra trước mát được mời chào bằng rượu vang đựng trong những túi bằng da dê như tập quán của dân du mục.

 

Đường bệ và cổ kính là những bức tượng bằng đồng với những con chiến mã tung bờm của Lê-nin-grát, còn Mát-xcơ-va có điện Krem-li như một trái tim. Phát hiện vẻ đẹp muôn màu này, người viết không hề có ý định phô trương. Chẳng thế mà thay cho cái hào nhoáng, cái ngạo nghễ của nền văn minh công nghiệp là thiên nhiên với tầng tầng lớp lớp những vỉa, tầng văn hoá lâu đời. Tính chất tuỳ bút bộc lộ những cảm xức riêng tư – với tư cách một công dân Xô-viết vừa mở ra trên độ rộng, vừa lắng lại ở độ sâu. Ở đó có cái chung, cũng có cái riêng. Nhưng dù là chung hay riêng, có mảnh đất nào, vùng miền nào không phải là một phần cơ thể của nước Nga, của chính người viết, nên có câu văn nào chẳng thao thức, nao lòng?

 

3. Điểm nhấn của bài văn là đoạn kết : “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể”. Đó là sự vận hành của quy luật tự nhiên. Nhưng cũng là quy luật của con người : “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Ở đây không chỉ là vấn đề biến đổi về lượng. Lượng đổi, chất đổi giống như bão không phải tự nhiên mà có. Nó từ gió sinh ra. Tục ngữ Việt Nam có câu : Kẻ gieo gió phải gặt bão. Kẻ thù động vào nước Nga sẽ hiểu lòng yêu nước của người Nga. Bởi một mặt : tình yêu của con người mạnh, yếu như thế nào thì không có một cách nào khác hơn là phải đem vào thử thách, mà thử thách ghê gớm nhất là lửa đạn của chiến tranh. Và mặt thứ hai, trong thực tế, từ “mùa thu qua” (mùa thu năm 1941), một lẽ phải của tâm hồn đã được xác nhận hiển nhiên : “Mất nước Nga thì ta còn sống làm gì nữa”. Lẽ phải ấy đã được vang lên trong tiếng súng phản công, đã kéo lên ngọn cờ chiến thắng ngay tại sào huyệt của quân thù.

 

4. Vẻ nghệ thuật của bài văn, ta thấy nổi lên cách lập luận rất chặt chẽ theo một trình tự lô gích của tư duy : Lòng yêu nước luôn tiềm tàng ở mỗi con người. Khi chiến tranh xâm lược xảy ra, lòng yêu nước ấy được đánh thức, và sức mạnh ghê gớm của nó sẽ được chứng minh. Hai luận điểm đầu là những thực tế (những thực tế không nhìn thấy), còn luận điểm thứ ba là hệ quả, tuy chỉ là dự báo (sẽ được nhìn thấy nhãn tiền). Những điều tưởng như không cần phải bàn cãi gì nhiều, nhưng quân thù không sao hiểu được (không chỉ được chứng minh trong cuộc phản công thắng lợi của Hồng quân Liên Xô, mà cả trong hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược sau đó không lâu).

 

Cùng với cách lập luận ấy là một lối diễn đạt thật trữ tình, sâu lắng, tài hoa. Lối diễn dạt này nói rất đúng và rất hay vẻ đẹp phong phú của tâm hồn người Nga. Cách viết của Ê-ren-bua giống như người khai thác nguyên liệu tâm hồn ở những tầng sâu và phát hiện ra ở đó một thứ-tiềm lực tinh thần để chính người Nga biến nó thành vũ khí, để chiến thắng mọi thứ bom đạn của quân thù cho dù chúng có ghê gớm đến đâu.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Lòng yêu nước” số 4

Bài Lòng yêu nước trích từ bài báo Thử lửa của I. Ê-ren-bua. Vừa có ý nghĩa khai tâm, đánh thức những gì đẹp đẽ nhất của lòng người vốn hình như vẫn còn niêm phong, tiém ẩn, nó vừa tập hợp sức mạnh vô song của nhân dân nước Nga, Liên bang Xô viết đối mặt với thử thách nặng nề của cuộc chiến tranh chống phát xít Đức xâm lược (1941 – 1945).

 

Về bố cục bài văn, có thể có những cách hiểu không giống nhau. Thông thường, người ta cho rằng bài văn có hai đoạn: đoạn một là lòng yêu nươc bắt nguồn từ những gì thân thuộc nhất, đoạn hai là lòng yêu nước được thế hiện và thử thách trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Còn một cách khác: lấy sự kiện chiến tranh làm mốc dẫn đến lòng yêu nước của con người có hai cấp độ khác nhau. Bài viết này theo phương án thứ hai.

 

Lòng yêu nước ban đầu của con người như một con suối nhỏ, chưa hề sâu rộng, mênh mông. Nó gắn với môi trường sống, với thiên nhiên như “Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời” (ý thơ Tổ Hữu). Đó là những phản xạ tự nhiên mà con người thường có. Một cái cây trước nhà, một cái phố đổ ra bờ sông, vị thơm chua mát của trái lê mùa thu, đó là “những vật tầm thường nhất”. Trong câu văn kể việc đã hình thành một nhạc điệu xao xuyến, bâng khuâng của tình yêu xứ sớ. Tuy còn một cái gì mơ hồ, chưa định hình rõ nét, nhưng nó đã là lòng yêu nước sơ khai, là điểm ban đầu.

 

Sự đột biến của cảm nhận về tình yêu ấy ở con người chỉ xảy ra trước những biến cố, nhất là những nguy cơ, những thử thách mất còn. Người con trai trong ca dao thời trước chỉ day dứt khi phải xa quê : “Anh đi anh nhớ quê nhà…”. Còn ở đây, vấn đề nghiêm trọng hơn : cuộc chiến đấu nổ ra, vận mệnh của nước Nga treo trên đầu sợi tóc. Chính trong bối cảnh khắc nghiệt ấy mà người Nga đã nhìn quê hương với con mắt khác. Một câu văn tưởng như chỉ là một chuyển ý thông thường, nhưng thực chất, nó đã là một sự phân cấp : “chiến tranh khiến cho mỗi công dân Xô viết nhận ra vẻ thanh tú của chốn quê hương”. “Chiến tranh”, đó là một cái mốc, những con người sống trên lãnh thổ nước Nga đã trở nên là những “công dân Xô viết”, nghĩa là mang một trọng trách thiêng liêng.

 

Phải đặt câu văn vào bối cảnh lịch sử cụ thể của nước Nga lúc này là sau một năm phát xít Đức tấn công, quân đội Nga phải thực hiện cuộc lui binh chiến thuật, rời bỏ phía tây, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài mới thấy hết những hàm ý sâu xa của nó. Một trong hai khả nâng : “nước Nga sẽ không còn” xuất hiện. Trong tình hình ấy, tình cảm hồn nhiên với quê hương dược nhanh chóng thay thế bằng những trằn trọc, trầm tư. Cái đang có có thể sẽ thành không, những cảnh vật nên thơ ban đầu lúc này mới trở nên có hồn. Cái đẹp tự nhiên mới bừng sáng lên trong khoảnh khắc. Và cái binh thường đã trở nên khác thường trong những rung động thiết tha. Tất cả đã trở thành máu thịt của con người : cái cây trước nhà sẽ không còn, cái phố nhỏ sẽ tan hoang, vị thơm của trái lê hay mùi cỏ thảo nguyên sẽ sặc sụa mùi chiến tranh bom đạn của quân thù. Chính là trong bối cảnh ấy, người ta mới hiểu thấu đến nao lòng “vẻ thanh tú của chốn quê hương”.

 

Quê hương của nước Nga, hay rộng hơn cả Liên bang Xô viết, mỗi nơi một vẻ nhưng nơi nào cũng yên ả, thanh bình. Đó là xứ sở của thơ và nhạc. Còn gì thơ mộng bằng những đêm tháng sáu sáng hồng của vùng cực Bắc, hoặc cảm giác về thời gian ngừng trôi giữa trưa hè vàng óng của U-crai-na. Muốn kiếm tìm chất hội hoạ điển hình phải đến Gru-di-a cùng với những niềm vui bất chợt khi thì rời những tảng đá sáng rực, lúc thì dòng suối óng ánh bạc đột ngột hiện ra trước mát được mời chào bằng rượu vang đựng trong những túi bằng da dê như tập quán của dân du mục.

 

Đường bệ và cổ kính là những bức tượng bằng đồng với những con chiến mã tung bờm của Lê-nin-grát, còn Mát-xcơ-va có điện Krem-li như một trái tim. Phát hiện vẻ đẹp muôn màu này, người viết không hề có ý định phô trương. Chẳng thế mà thay cho cái hào nhoáng, cái ngạo nghễ của nền văn minh công nghiệp là thiên nhiên với tầng tầng lớp lớp những vỉa, tầng văn hoá lâu đời. Tính chất tuỳ bút bộc lộ những cảm xức riêng tư – với tư cách một công dân Xô-viết vừa mở ra trên độ rộng, vừa lắng lại ở độ sâu. Ở đó có cái chung, cũng có cái riêng. Nhưng dù là chung hay riêng, có mảnh đất nào, vùng miền nào không phải là một phần cơ thể của nước Nga, của chính người viết, nên có câu văn nào chẳng thao thức, nao lòng?

 

Điểm nhấn của bài văn là đoạn kết : “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể”. Đó là sự vận hành của quy luật tự nhiên. Nhưng cũng là quy luật của con người : “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Ở đây không chỉ là vấn đề biến đổi về lượng. Lượng đổi, chất đổi giống như bão không phải tự nhiên mà có. Nó từ gió sinh ra. Tục ngữ Việt Nam có câu : Kẻ gieo gió phải gặt bão. Kẻ thù động vào nước Nga sẽ hiểu lòng yêu nước của người Nga. Bởi một mặt : tình yêu của con người mạnh, yếu như thế nào thì không có một cách nào khác hơn là phải đem vào thử thách, mà thử thách ghê gớm nhất là lửa đạn của chiến tranh. Và mặt thứ hai, trong thực tế, từ “mùa thu qua” (mùa thu năm 1941), một lẽ phải của tâm hồn đã được xác nhận hiển nhiên : “Mất nước Nga thì ta còn sống làm gì nữa”. Lẽ phải ấy đã được vang lên trong tiếng súng phản công, đã kéo lên ngọn cờ chiến thắng ngay tại sào huyệt của quân thù.

 

Về nghệ thuật của bài văn, ta thấy nổi lên cách lập luận rất chặt chẽ theo một trình tự logic của tư duy: Lòng yêu nước luôn tiềm tàng ở mỗi con người. Khi chiến tranh xâm lược xảy ra, lòng yêu nước ấy được đánh thức, và sức mạnh ghê gớm của nó sẽ được chứng minh. Hai luận điểm đầu là những thực tế (những thực tế không nhìn thấy), còn luận điểm thứ ba là hệ quả, tuy chỉ là dự báo (sẽ được nhìn thấy nhãn tiền). Những điều tưởng như không cần phải bàn cãi gì nhiều, nhưng quân thù không sao hiểu được (không chỉ được chứng minh trong cuộc phản công thắng lợi của Hồng quân Liên Xô, mà cả trong hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược sau đó không lâu). Cùng với cách lập luận ấy là một lối diễn đạt thật trữ tình, sâu lắng, tài hoa. Lối diễn dạt này nói rất đúng và rất hay vẻ đẹp phong phú của tâm hồn người Nga. Cách viết của Ê-ren-bua giống như người khai thác nguyên liệu tâm hồn ở những tầng sâu và phát hiện ra ở đó một thứ-tiềm lực tinh thần để chính người Nga biến nó thành vũ khí, để chiến thắng mọi thứ bom đạn của quân thù cho dù chúng có ghê gớm đến đâu.

 

Về phương diện tinh thần, Lòng yêu nước giống như một thứ Hịch tướng sĩ của nước Nga trong những năm bốn mươi của thế kỉ XX. So với bài hịch của Trần Quốc Tuấn, nó không hướng tới một đối tượng hữu hạn (tướng sĩ) mà phát động toàn dân, cũng không xuất phát từ những tín điều đạo lí đã trở nên chuẩn mực một thời mà từ những rung cảm nhân văn bình dị nhất. Tính dân chủ, tính toàn dân hiện lên rất rõ ràng trong bài tuỳ bút chính luận nổi tiếng một thời.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Lòng yêu nước” số 3

I-li-a Ê-ren-bua là một nhà văn – nhà báo nổi tiếng của Liên Xô trước đây. Cuộc đời cầm bút của ông đã gắn bó với một giai đoạn thử thách đầy ác liệt và cam go của đất nước Xô Viết: cuộc đụng đầu quyết liệt giữa nhà nước Xô Viết chân chính với bọn phát xít Hít-le trong cuộc chiến tranh vệ quốc vỉ dại (1941- 1945). Lửa thử vàng, chính trong lúc cam go nhất của lịch sử, lòng yêu nước của công dân Xô Viết được thử thách. Là một nhà báo, I-li-a Ê-ren-bua đã ghi lại được những thời khắc lịch sử vô cùng quý báu và thiêng liêng của dân tộc. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của ông đã ra đời trong thời kì này mà Thử lửa là một sáng tác đặc sắc.

 

Thử lửa là một bài báo rất độc đáo. Chính chất văn và chất báo trong con người I-li-a Ê-ren-bua đã kết tinh nên thiên tuỳ bút – chính luận này. Bài văn Lòng yêu nước (Ngữ văn 6, tập II) là một phần của thiên tuỳ bút chính luận Thử lửa. Chỉ mấy chục dòng nhưng bài văn cũng đủ đem đến cho người đọc những cảm xúc, ấn tượng khó quên. Bài văn đã hội tụ được trong nó chất chính luận sắc sảo với chất trữ tình đằm thắm, vì thế, việc khẳng đinh chân lí. Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất… Lòng yêu nhà, yèu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc trở nên có sức thuyết phục mạnh mẽ.

 

Bài văn được bố cục thành hai phần với hai ý lớn. Ở phần đầu của bài viết, tác giả đề cập tới ngọn nguồn của lòng yêu nước. Để thể hiện nội dụng này, tác giả sử dụng một trình tự lập luận khá chặt chẽ. Mở đầu đoạn văn, tác giả nêu lên một nhận định được đúc kết từ thực tiễn: Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất, cụ thể là yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lè mùa thu hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh.

 

Tiếp đó, tác giả mở rộng chứng minh nhận định, đề cập đến tình yêu quê hương trong một hoàn cảnh cụ thể: Chiến tranh khiến cho mỗi công dân Xô Viết nhận ra vẻ thanh tú của chốn quê hương. Cuối cùng, tác giả khái quát thành một chân lí. Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn- ga, con sông Vôn- ga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yếu miền quê trở nên lòng yêu tổ quốc. Tuy nhiên, sức thuyết phục của bài văn chủ yếu không phải bằng lí lẽ, mà bằng tình cảm thiết tha, sâu đậm và sự hiểu biết sâu sắc về Tổ quốc Liên bang Xô viết của nhà văn. Chính tình cảm và sự hiểu biết ấy đã khiến tác giả cảm nhận được những “nét thanh tú”, những vẻ đẹp riêng biệt độc đáo của mỗi miền đất nước.

 

Ngòi bút của tinh tế I-li-a Ê-ren -ri-bua đưa người đọc đến những vùng miền khác nhau của đất nước Liên Xô rộng lớn, chiêm ngưỡng những vẻ đẹp thiên nhiên, thưởng thức những đặc sản, cảm nhận những tình cảm bình dị, ngọt ngào. Đây miền Bắc của Liên Xô với những cánh rừng bên dòng sông, có những thân cây mọc là là mặt nước, những đêm tháng sáu sáng hồng và tiếng cô nàng gọi đùa người yêu. Đây xứ U-crai-na êm đềm với bóng thuỳ dương tư lự bèn đường, trưa hè vàng ánh. Đây sứ Gru-di-a với những triền núi cao có khí trời trong lành, những tảng đá sáng rực, dòng suối óng ảnh bạc, có vị mát của nước đóng băng, rượu vang cay, những lời thân ái giản dị.

 

Thật thú vị biết bao! Và đây, thành Lê-nin-grát đường bệ và mơ mộng, với những tượng đồng tạc những con chiến mã lồng lên, lá hoa rực rỡ của công viên mùa hè, những phố phường mà mỗi căn phòng là một trang lịch sử. Và đây nữa thành Mát-Xcơ-va cổ kính với những phố cũ ngoằn ngoèo lan man như một hoài niệm, với điện Krem-li, nhừng tháp cổ có ánh sao đỏ.

 

Ngòi bút miêu tả cùa I-li-a Ê-ren-bua mang đậm sác thái trữ tình, thể hiện tình cảm yêu mến và tự hào sâu sắc của ông về quê hương đất nước của mình. Có thể nói, chưa bao giờ khái niệm về lòng yêu nước lại được diễn tả chính xác và gợi cảm đến thế. Ngay chân lí về lòng yêu nước cũng được thể hiện bằng một hình ảnh so sánh rất ấn tượng. Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc.

 

Sau khi nêu ra ngọn nguồn của lòng yêu nước, I-li-a Ê – ren- bua chuyển sang khắng định: Lòng yêu nước chỉ có thể được bộc lộ đầy đủ nhất, cao đẹp nhất khi được thử thách trong lửa đạn chiến tranh: Có thể nào quan niệm được sức mãnh liệt của tình yêu mà không đem nó vào lửa đạn gay go thử thách. Chính trong cuộc chiến tranh vệ quốc một mất một còn này, mỗi người dân Xô Viết hiểu cuộc sống và số phận của họ và gắn liền với vận mệnh Tổ quốc. Và vì thế, họ sẵn sàng rời xa quê hương tươi đẹp, thơ mộng xiết bao trìu mến để lên đường chiến đấu vì Tổ quốc.

 

Bài văn kết thúc bằng một câu nói đã trở thành phương châm sống của công dân Xô Viết lúc bấy giờ: Mất nước Nga thì ta còn sống làm gì nữa. Phương châm ấy đã trở thành lí tưởng sống của mọi dân tộc.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Lòng yêu nước” số 5

Đoạn văn Lòng vêu nước được trích từ bài báo “Thử lửa” nổi tiếng của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua viết vào cuối tháng 6 năm 1942, thời kì ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức (1941-1945). Bài văn giải thích cho ta thế nào là lòng yêu nước và sức mạnh của lòng yêu nước sẽ chiến thắng bất kì kẻ thù nào.

Theo nhà vãn, “lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật gần gũi nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm dịu mát của trái lê mùa thu hay mùi cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh”. Đúng vậy, đất nước là những gì gần gũi nhất, thân thiết nhất, tạo thành môi trường sống xung quanh ta. Yêu nước, trước hết là vêu những cái gần gũi nhất, thân thiết nhất ấy.

Trong chiến tranh, lòng yêu nước sẽ trỗi dậy mạnh hơn lúc nào hết. Bởi vì chiến tranh đe dọa tàn phá những gì gần gũi, thân thiết kia. Trước sự đe dọa tàn phá của chiến tranh, mỗi công dân Xô Viết nhận ra vẻ thanh tú của chốn quê hương họ. “Người vùng Bắc nghĩ đến cánh rừng… Người xứ Uy-cơ-ren nhớ bóng thuỳ dương… Người xứ Giê-oóc-gi ca tụng khí trời của núi cao…” Thì ra lòng yêu nước ở đâu cũng vậy. Trước sự đe dọa tàn phá của chiến tranh, người Việt Nam ta cũng có những câu thơ thật hay về đất nước:

“Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre”.

(Tế Hanh – Nhớ con sông quê hương)

Như vậy đấy, quê hương hiện lên thật bình dị, gần gũi, thân thiết và cũng rất “thanh tú”. Đó là con sông, là hàng tre… là bất cứ cái gì thuộc về kỉ niệm ở mỗi con người. Như một quy luật: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Khi có chiến tranh, lòng yêu Tổ quốc sẽ là động lực thúc đẩy mọi người đứng dậy cầm vũ khí bảo vệ non sông đất nước họ. Lòng yêu Tổ quốc sẽ tạo nên lòng dũng cảm. Nhà văn Ê-ren-bua đã nói rất đúng: “Kẻ gian và thám tử có thể làm những chuyện liều lĩnh, song chẳng ai bảo chúng là anh hùng.

Chúng để hết tâm trí vào công việc, song công việc của chúng chẳng có hồn. Lịch sử quên ngay tên những hung phạm có tài, những kẻ mạo hiểm thần tình. Lịch sử giữ lại những tên khác: tên những người bỏ mình vì một lý tưởng, vì nhân dân, vì loài người, cho một xã hội mới tốt đẹp hơn”. Kẻ gian và thám tử có thể rất liều lĩnh, nhưng chúng liều lĩnh vì mục đích cá nhân nào đó. Người yêu Tổ quốc sẵn sàng chết vì Tổ quốc. Đó sẽ là cái chết bất tử, cái chết “gieo mầm” bởi cái chết ấy sẽ “thổi một nguồn sống mới vào lòng triệu con người”.

Đúng vậy, ở đất nước Việt Nam, trong máu lửa chiến tranh có biết bao cái chết bất tử, cái chết “gieo mầm”, cái chết “thổi một nguồn sống mới”: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lý Tự Trọng, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Trỗi… Lịch sử mãi mãi ghi công ơn của họ. Bởi chính họ đã góp xương máu của mình làm nên lịch sử.

Noi theo lí tưởng của thế hệ đi trước, mỗi chúng ta hôm nay hãy gắng sức góp phần mình để xây dựng đất nước ta giàu đẹp hơn.